Madamchic Apple Slim Keo deo giam tao giam can

0 bình luận

Bến không chồng – “Hòn vọng phu” thời hiện đại

03/08/2021 | 2:30 chiều

“Bến không chồng” góp một “cái nhìn mới mẻ về bức tranh đất nước thời chiến và hậu chiến kéo dài những mấy chục năm; với gánh nặng không phải chỉ là chiến tranh – về khách quan; mà còn là những lầm lạc của con người trong thời kỳ lịch sử có quá nhiều biến động và thử thách, mà tất cả những ai “do lịch sử để lại” không đủ tầm và sức để vượt qua nó” – Giáo sư Phong Lê.

Giới mộ điệu biết đến Dương Hướng bằng một câu nói hiền như đất khi lí giải cho mọi vấn đề liên quan đến văn chương: “Cái tạng tôi nó thế”, chân chất như chính bút danh của ông – bê nguyên tên cha mẹ đặt là Dương Văn Hướng, chỉ xóa tên đệm lại thành ra một bút danh hay.

Dương Hướng cầm bút muộn và viết cũng không nhiều, trả lời phóng viên Nông Hồng Diệu, ông khiêm tốn nhận định rằng: “Số tôi được hưởng lộc văn chương”. Ông thành danh trong nền văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới. Tiểu thuyết “Bến không chồng” của Dương Hướng là một trong ba tác phẩm nhận Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1991 – một giải thưởng sáng giá, ghi nhận thành tựu văn học Việt Nam sau mỗi kế hoạch 5 năm.

“Bến không chồng” đã được dựng thành phim cùng tên vào năm 1999 bởi Lưu Trọng Ninh, giành giải Bông Sen Bạc của Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 13 (2001). Mới đây, tiểu thuyết lại được đạo diễn họ Lưu chuyển thể thành phim truyền hình dài 24 tập với tựa đề “Thương nhớ ở ai”.

Nguyễn Vạn – con người do lịch sử để lại

Bối cảnh truyện bắt đầu từ lúc chàng lính Nguyễn Vạn về sau chiến thắng Điện Biên, kéo dài qua cuộc kháng chiến chống Mỹ, đến giai đoạn đất nước mới được giải phóng, tại làng Đông – một làng quê điển hình vùng Bắc Bộ với lũy tre, mái đình, cây đa, giếng nước.

Nguyễn Vạn về trong niềm trọng vọng của mọi người. Anh xông xáo xây dựng hậu phương, bởi thương tật khiến anh không còn đủ khả năng ra tiền tuyến nữa. Ấy vậy mà, những hủ tục, những lề thói cũ mòn của dòng họ, của làng quê đã bóp nát tình yêu của anh, vô tình giết chết những mưu cầu hạnh phúc đơn giản nhất của một con người.


Nguồn ảnh: Instagram

Người ta thường nói, muốn đội vương miện phải chịu được sức nặng của nó. Mang trên mình chiến công và danh hiệu anh hùng Điện Biên, Vạn phải sống khép mình vào khuôn khổ dưới cái nhìn khắc khe của hàng trăm con mắt. Vạn không thể vượt qua dư luận để… yêu, anh không dám vượt qua rào cản để đến với chị Nhân dù bản năng thôi thúc.

Chị Nhân cũng không thể đến với Vạn hay với bất kỳ ai – bởi chị là vợ, là mẹ liệt sỹ. Chồng hy sinh khi chị Nhân còn quá trẻ. Chị ở vậy thờ chồng, nuôi con. Chỉ một lần nghĩ về Vạn thôi đã khiến chị day dứt không nguôi, chị sẽ sống ra sao nếu xóm làng biết chuyện?

Hai con người đáng thương ấy sống trong sự kìm nén bất hạnh. Cả cuộc đời buộc bản thân “giữ gìn hình ảnh”. Một đời cô độc.

Đã có một thời như thế, những lề thói cổ hủ nghiệt ngã, những suy nghĩ cũ xưa lạc hậu áp đặt lên cuộc sống tinh thần của toàn bộ người dân, khiến họ sống khép kín cùng cam chịu, khiến họ tồn tại như cái xác không hồn để rồi kẹt vào những bi kịch không lối thoát.

“Hòn vọng phu” thời hiện đại

Song song với cuộc đời của Nguyễn Vạn là  mối tình, mối nhân duyên đầy éo le của Nghĩa và Hạnh. Cả hai là thanh mai trúc mã, nhưng Nghĩa họ Nguyễn còn Hạnh họ Vũ. Mối thù truyền kiếp hai họ Nguyễn – Vũ đã không thể ngăn cản được tình yêu của đôi trái tim trẻ trung hừng hực cháy. Họ đến với nhau mặc những định kiến, dè bỉu, thậm chí là sự lạnh lùng của cha mẹ.

Tình yêu của Nghĩa và Hạnh có thể đánh bại được những ngoại nhân tác động, nhưng lại không thắng nổi nội nhân ham muốn, tính dục, suy nghĩ và sự thay đổi theo thời gian của con người. Sau khi Nghĩa đi bộ đội, tuổi trẻ của Hạnh trôi qua hơn 10 năm trời ròng rã trong sự làm việc cật lực và chăm lo hết sức cho gia đình hai bên. Cô dần dần trở thành trụ cột của cả nhà mẹ đẻ lẫn nhà chồng, khi những người đàn ông gia đình lần lượt ra đi mãi mãi.

Vậy mà đến ngày đoàn tụ, đến khi chiến tranh chấm dứt, Hạnh cũng là người dứt áo ra đi, bởi cô nhầm tưởng rằng chính mình không thể có con, không thể làm trọn bổn phận của một người phụ nữ, và nhất là không thể giữ được tình yêu của Nghĩa được nữa.

madamchic.vn - ben khong chong - hon vong phu thoi hien dai 1.jpg

Người phụ nữ ấy dù không có tội, vẫn luôn nhận hết mọi đớn đau mà ra đi.

“Bến không chồng” là tác phẩm mà trong đó, bi kịch chồng chất bi kịch. Chiến tranh đã cướp đi khả năng làm cha của Nghĩa, đã cướp Nghĩa khỏi vòng tay Hạnh, đã cướp đi khuôn mặt của Thành, đã cướp đi chồng và hai đứa con trai của chị Nhân (mẹ Hạnh)…

Chiến tranh trong chuyện của Dương Hướng chỉ thể hiện qua lời kể của người trở về, qua từng tờ giấy báo tử vô hồn, và hiếm hoi với vài lần máy ném bom bay lượn lờ trên không… ở đấy không có súng đạn đì đùng mà là những mảnh đời đong đầy nước mắt.

Cuộc chiến để lại làng quê quạnh quẽ thiếu vắng bóng dáng đàn ông, chỉ còn lại những cuộc tình dang dở, những thiếu nữ lỡ làng, những người phụ nữ mòn mỏi, cứ chiều chiều lại tưởng chừng như hiện hữu bức tranh tố miêu dưới ngòi bút của Picasso, diễn một vở được phác họa là “vọng phu” bên bến nước đầu làng.

Luân lý nào cho những con người ngày ngày đối mặt thần chết?

Dưới thời chiến tranh, người ta có một quan niệm khá “khoan dung” với người lính, bởi ra chiến trường rồi thì sống chết nay mai. Vì thế mà những mối tình ngắn ngủi xuất hiện. Những đứa con thụ thai vội vã. Những thiếu phụ ngóng trông một bóng hình mà chính các nàng cũng chẳng hiểu rõ. Một quan niệm không thể phân rõ tốt xấu đúng sai, khi cái chết gần hơn sự sống thì ai lại không muốn buông mình chỉ một giây phút?

Nhưng nếu đó là đối với những chàng trai còn quá trẻ, còn chưa kịp trải đời, họ đáng được nhận lòng thông cảm. Còn đối với Nghĩa, khi đã cưới Hạnh rồi mới đi chinh chiến, tại cái phút đa tình phóng khoáng với người con gái khác, cậu đã quên đi mối tình nồng thắm với người vợ tần tảo quê nhà, chính bản thân cậu đã đẩy Hạnh vào đường cùng của sự đau đớn. Quan niệm đó cổ xúy tính dục của con người, khiến họ gạt bỏ hai chữ thủy chung và thả rông cho những tham – sân – si chạy loạn ngoài lằn ranh đạo đức.

Tất cả phần “con” của con người được hiện lên rõ nhất – chính là khi phải bước vào những quyết định khó khăn, những dồn nén đến bước đường cùng, hoặc là cận tử. 

Ngòi bút Dương Hướng khai thác những góc tối của con người theo cách nhẹ nhàng mà đầy bất ngờ.

Tác phẩm không có bất kỳ một triết lý giáo điều nào để dạy con người phải học gì, nghĩ gì, làm gì. Qua con chữ mộc mạc pha lẫn chút hài duyên dáng như bản chất người Việt, Dương Hướng không khỏi khiến cho độc giả băn khoăn suy nghĩ về những phẩm chất quý giá của người phụ nữ xưa và nay, về cách sống sao cho vẹn toàn đạo lý dù đứng trước ngã rẽ khó khăn của cuộc đời…

Bằng một cái kết bất ngờ đến ám ảnh, “Bến không chồng” vẽ nên một bức tranh thê lương thời hậu chiến, nơi có những con người thương nhau đến tận cùng mà vẫn rơi vào kết cục bi đát, nơi không có sự bù đắp nào cho những người lính trở về sau chiến tranh, nơi hạnh phúc đã bỏ quên những người dân chân chất làng Đông.

madamchic.vn - ben khong chong - hon vong phu thoi hien dai .jpg

“Bến không chồng” – kết quả ngang ngạnh của một con người hiền lành

Nỗi trăn trở của anh bộ đội cụ Hồ mang tên Dương Văn Hướng: “Ngày thống nhất đất nước trở về làng, tôi giật mình nhận ra trong những nụ cười hân hoan chiến thắng của bạn bè, người thân, họ tộc, cùng bà con làng xóm, tất thảy đều ẩn chứa điều gì đó mà chỉ những người đi xa về mới dễ nhận ra. Đó chính là nỗi cô đơn, sự chịu đựng khắc khổ bởi hậu quả của cuộc chiến tranh đã qua. Rồi biết bao nhiêu câu chuyện tôi được chứng kiến, thế là các nhân vật cứ dần hiện lên sống động trong tâm trí mình”.

Và thế là Dương Hướng bắt đầu viết.

Ông kể rằng mình đã nghỉ nửa năm không lương chỉ để ngồi viết “Bến không chồng” mà cũng không tin chắc nhà xuất bản đặt hàng sẽ in. Khi tác phẩm hoàn thành, họ đòi sửa lên sửa xuống nhiều chi tiết, nhưng Dương Hướng nhất quyết không sửa: “Tôi thấy nhất định nó phải thế!”. Bất đồng quan điểm, ông mang sách tới NXB Hội Nhà văn và may mắn sách được in, không sửa chút nào, ngay cả một dấu câu cũng tôn trọng tác giả, ngay cả cái kết gây nhiều tranh cãi cũng được giữ nguyên.

Khi cần ngang ngạnh, con người hiền lành ấy xem ra cũng chẳng chịu thua ai.

Có thể Dương Hướng có số hưởng lộc văn như lời ông nói, nhưng nếu không có niềm đam mê sống chết với nghề cầm bút thì lộc cũng không tự đến.

Đọc “Bến không chồng” để có một góc nhìn mới về lịch sử nước nhà thông qua câu chuyện về người lính, về tình yêu, về những người phụ nữ, về tính dục và bản năng của con người. Giáo sư Phong Lê có lời đánh giá tác phẩm: “Với sức nặng đề tài cùng phương thức thể hiện truyền thống, với cốt truyện mộc mạc và chân phương, một ngôn từ không lấp lánh tài hoa, mà giản dị, tự nhiên, và với ưu thế đó, “Bến không chồng” là tác phẩm khẳng định được ngay vị trí của nó trong lòng độc giả mà không hề gây tranh cãi”.

Nguồn: Reviewsach

JuJi

Tags:
0 bình luận

Tội ác và hình phạt – Cái giá của sự ngộ nhận đức tin

04/09/2021 | 10:30 sáng

Tội ác và hình phạt là tác phẩm không chứa đựng nhiều tình tiết bất ngờ, nhưng đủ để khiến bạn đọc căng não bởi sức nặng tâm lí của thế giới nội tâm những người dưới hầm xã hội Nga vô thần.

Hình ảnh con người nhỏ bé, con người tìm đường được tác giả chung đúc khéo léo, bên cạnh quá trình thức tỉnh của một con người lạc lối. Các mạch ngầm tư tưởng kết nối một cách linh hoạt, uyển chuyển thông qua các cuộc đối thoại thiết lập tương quan giao tiếp giữa người nghệ sĩ, bạn đọc và nhân vật. Tất cả đã tạo nên một công trình tiểu thuyết đa âm mới mẻ mang màu sắc Nga đặc trưng.

MadamChic - toi-ac-va-hinh-phat-cai-gia-cua-su-ngo-nhan-duc-tin.jpg

Ảnh: @tiemsachdieubong

Dành cả cuộc đời đi tìm tiếng nói con người trong con người

Fyodor Dostoevsky, một người nghệ sĩ mạnh mẽ trên con đường lao động nghệ thuật tròn ba thập kỉ rưỡi, với những dư ảnh của sự nghèo nàn, túng thiếu cùng hải hà năm tháng tù đày tăm tối, đổi lấy chuỗi ngày tràn ngập ánh sáng đẹp đẽ trong cuộc hành trình sáng tạo con chữ. Những kiệt tác của ông, tiêu điểm là tác phẩm Tội ác và hình phạt đã thổi bùng ngọn lửa văn chương vốn rực rỡ của nền văn học Nga, nay càng thêm rạng rỡ bội phần trên văn đàn thế giới. Điều Dostoevsky thật sự quan tâm là hệ quả của quá trình kết nối, xử lí dữ liệu nội bộ trong linh hồn của mỗi người.

Xuất phát từ sự hiện diện ý thức bản thân, nhân vật của Dostoevsky luôn phải đối mặt với những cuộc chiến tâm lí phức tạp ngỡ như không có lối thoát. Bakhtin từng nhận xét về phong cách nghệ thuật của Dostoevsky như sau: “Dostoïevski tìm kiếm một nhân vật chính có ý thức thượng thừa, một nhân vật chính mà cuộc đời hoàn toàn dựa trên ý thức bản thân và ý thức cuộc sống”. 

Nhân vật ông không bon chen giữa cuộc đời tấp nập để rồi chảy trôi theo dòng sự kiện. Ẩn mình trong họ là tiếng nói của tư tưởng, của hoài bão, của những mộng tưởng dẫu sự sống mãi tìm cách bóp nghẹt hơi thở của ý thức. Chúng ta thử truy nguyên để rồi lí giải lực hút đặc biệt Dostoevsky dụng công thiết lập trong ma trận ngôn ngữ tiểu thuyết Tội ác và hình phạt, để thấu cảm màu sắc nghệ thuật độc đáo của người nghệ sĩ hết mình vì con người.

Thế giới của sự tự do đối thoại 

Sáng tác của Dostoevsky không đơn thuần xây dựng lên như công cụ khuyếch tán tư tưởng của tác giả, cao cả hơn, trong thế giới đó, nhà văn trở thành người tham gia bày tỏ ý thức cùng nhân vật nhưng nắm trong tay đặc quyền điều động các cuộc đối thoại. Dostoevsky đã trao cho nhân vật sự tự do mà không phải nhân vật nào cũng có được.

Họ tự do bày tỏ tiếng nói âm ỉ nơi đáy sâu tâm hồn, được phép vượt thoát ra khỏi ranh giới tư tưởng của người sáng tạo ra chính mình, độc lập phát ngôn ý kiến đôi khi là đấu tranh, phản bác chính ý thức hệ của nhà văn. Ý thức của nhân vật vang lên như một thanh âm riêng biệt song hành cùng với tiếng hát của tác giả góp phần tạo nên một khúc ca mang nhiều màu sắc, khúc ca kết tinh sinh lực của một hoa tiêu trong giới tiểu thuyết đa âm.

Trong Tội ác và hình phạt, sự tự do hiện hữu tạo tiền đề hình thành các cuộc đối thoại.

Thông qua chúng, Dostoevsky để Raxcolnicov truyền những tần số đơn độc trong thế giới của chính mình. Càng đối thoại, anh càng thấy bản thân rơi vào hố sâu của tội lỗi, bao lỗ hổng trong tư tưởng dần lộ diện để rồi tất cả đẩy anh lọt thỏm trong những khủng hoảng, những vỡ vụn nơi tinh thần.

Cũng chính từ những cuộc hội thoại, đặc biệt với Xonia và Porfiri, Raxcolnicov được va đập với các hệ tư tưởng khác nhau dẫn đến thúc đẩy quá trình chất vấn, đi sâu vào nội tâm để kiếm tìm con đường giải thoát cho chính mình. Họ đã trao đổi thông tin gì với nhau, họ đấu tranh cho tư tưởng của mình như thế nào khi xuyên suốt tác phẩm, độc giả luôn chứng kiến nhân vật chính mãi vùng vẫy trong chuỗi ngày đớn đau lẫn xác và hồn.  Bạn đọc chỉ có thể giải đáp bao băn khoăn ấy bằng cách thả hồn mình vào từng ngóc ngách trong thế trận của Dostoevsky tạo ra, để cảm nhận, để hiểu và để chiêm nghiệm.

MadamChic - toi-ac-va-hinh-phat-cai-gia-cua-su-ngo-nhan-duc-tin 1.jpeg

Ảnh: @quan_sach_mua_thu

Sự tự do đẩy đến vực thẳm 

Dostoevsky không chỉ ban cho nhân vật đặc ân tự do đối thoại mà còn cho phép họ quyền lựa chọn điểm tựa của niềm tin. Ở Raxcolnicov, anh trao tất thảy sự tin tưởng của mình cho chủ nghĩa anh hùng cá nhân. Nghĩa là anh quay lưng và khước từ niềm tin đối với Chúa. Về bản chất, niềm tin là bộ lọc thông tin chỉ lối cho mọi hành động.

Khi hiện hữu niềm tin về chủ nghĩa anh hùng, phần nào Raxcolnicov tồn tại suy tư rằng bản thân có phải là một siêu nhân hay không? Và để kiếm tìm lời hồi đáp cho trăn trở, anh đã hạ quyết định đi đến một thử nghiệm, giết mụ cầm đồ. Thế nhưng, khi thực hiện hành động xác thực niềm tin của mình, Raxcolnicov vô tình đã làm lung lay, thậm chí là sụp đổ bước đầu cho niềm tin vô thần của bản thân qua hành động giết Livazeta. Hành động mang tính tàn bạo, sát nhân ấy không thể nào biện hộ bằng lí lẽ nào được.

Sinh thể Raxcolnicov nắm trong tay quyền năng tự do đối thoại trong thế giới ngôn từ của Dostoevsky đã chỉ rõ sự ảnh hưởng của nguyên tắc tự kỉ ám thị lên niềm tin của anh.

Những suy nghĩ của con người khi được nhắc đi nhắc lại thường xuyên, chúng ta sẽ tin vào điều mà bản thân hoài nghi.

Minh chứng xác thực nhất chính là sự tác động của cuộc đối thoại giữa hai người sinh viên về mụ cầm đồ, chứng tỏ mụ ta là người không tốt. Sự kiện này càng củng cố niềm tin, hành động cho Raxcolnicov. Một lần nữa, Dostoevsky tiếp tục để nhân vật lạc vào các cuộc đối thoại, nơi tư tưởng của nhân vật phải cọ xát, va đập để nhận thức, thấu hiểu, giác ngộ.

Những lí thuyết, lập luận logic, sắc bén của anh dần phai mờ, thay vào đó là sự hoài nghi dẫn đến chuỗi ngày tiếp theo, nhân vật phải đối mặt với bao dằn vặt, đau đớn đến từ bản án lương tâm của chính mình. Với sự xuất hiện của Xonia và Porfiri – những nhân vật góp phần thắp nên ánh sáng trên con đường cứu rỗi đối với nhân vật chính, Dostoevsky đã chỉ ra lỗ hổng trong tư tưởng của Raxcolnicov một cách khéo léo, tinh tế.

Tuy nhiên, sau tất cả, đó chỉ mới là sự lay thức đối với niềm tin của Raxcolnicov. Cho đến tận cuối cùng, khi bị lưu đày, niềm tin đối với chủ nghĩa anh hùng của Raxcolnicov vẫn còn đó.

Nó chỉ thực sự sụp đổ khi anh trải qua cơn mơ về ngày tận thế để rồi tìm đến với Thiên chúa. 

Như vậy, niềm tin của Raxcolnicov đã chứng minh cho chúng ta thấy, khi niềm tin lựa chọn điểm tựa không dựa trên phương diện đạo đức, khước từ những ràng buộc, nó sẽ đẩy con người vượt ra khỏi những giới hạn để rồi vượt ngưỡng của tính người. Vị kỉ cực đoan, siêu nhân chủ nghĩa chính là hủy diệt nhân cách của con người. Do đó, Dostoevsky đã đưa ra hướng giải quyết, đặt niềm tin vào Chúa, vào sự cứu rỗi, con đường cứu chuộc. Nghĩa là đặt điểm tựa vào niềm tin tôn giáo, niềm tin vào những ràng buộc về đạo đức.

Khép lại trang sách cuối cùng, điều Dostoevsky để lại cho bạn đọc không đơn thuần là câu chuyện phạm tội của một tên sát nhân. Ẩn sâu dưới những con chữ, người nghệ sĩ ấy đã lặn mình vào đáy sâu tâm lí kẻ phạm tội, nhìn nhận nó, diễn tả nó, đánh giá nó.

Không dừng lại ở câu chuyện về con người, Tội ác và hình phạt còn đem lại nhiều góc nhìn mới ở phương diện nghệ thuật, những phát kiến mới ở vùng đất tiểu thuyết vốn đã có quá nhiều dấu chân thành công. Những gì bạn nên làm ngay bây giờ chính là cầm tác phẩm lên và để chính mình thấu hiểu bao giá trị nhân sinh trong một kiệt tác nghệ thuật kì công. 

0 bình luận

Cách làm sạch da heo, lông heo một cách nhanh chóng nhất

15/08/2021 | 2:30 chiều

Da heo vốn được biết đến với hương vị thơm ngon, hấp dẫn đã làm say đắm biết bao nhiêu người. Thế nhưng, để làm nên món ngon ấy bạn đã biết cách sơ chế da heo cho sạch chưa? Nếu chưa, thì để chuyên mục Mẹo vào bếp đem đến cho bạn các cách làm sạch da heo, lông heo nhanh nhất nhé!

1. Sử dụng dao cạo

Sử dụng dao cạo được xem là cách thông dụng nhất khi muốn làm sạch da heo. Tuy nhiên, bạn phải sử dụng dao lam sắc bén thì hiệu quả đạt được cao hơn.

madamchic.vn - cach lam sach da heo don gian.jpg

Đầu tiên, bạn cạo theo 1 chiều nhất định, đồng thời theo hướng từ trên xuống của phần da heo, đặc biệt là ở những chỗ còn lông thì nên chú ý cẩn thận để làm sạch.

Đối với phần da có lông khó vệ sinh, thì bạn có thể dùng nhíp để loại bỏ hết sạch phần lông đem lại hương vị trọn vẹn cho món ăn.

madamchic.vn - cach lam sach da heo don gian 1.jpg

2. Áp chảo phần da

Một cách khác bạn có thể sử dụng chính là áp chảo phần da. Đầu tiên, làm nóng chảo với lửa lớn 5 – 7 phút. Sau đó, đặt phần da heo xuống bề mặt chảo, dùng tay cầm vào phần bề mặt còn lại chà đi, chà lại khoảng 3 phút, đến khi thấy phần da hơi cháy đen.

Kế đến, bạn dùng dao sắc, bén cạo sạch đi phần cháy trên da heo rồi tiến hành chế biến thành các món ngon là được rồi nhé!

3. Sử dụng nước sôi

Bên cạnh đó, sử dụng nước sôi để làm sạch da heo cũng là cách được rất nhiều chị em tin dùng bởi vừa dễ dàng, nhưng hiệu quả thì lại cực kì cao.

Chỉ cần bắc nồi lên bếp tiến hành đun sôi nước, sau đó cho da heo vào chần sơ trong vòng 10 – 15 phút, kế đến vớt ra để nguội 5 phút. Cuối cùng, dùng dao cạo có độ sắc, bén cạo đi phần lông ở trên bề mặt da nữa là đã hoàn thành rồi!

madamchic.vn - cach lam sach da heo don gian 3.jpg

4. Dùng baking soda

Ngoài những cách trên, thì bạn cũng có thể sử dụng baking soda để làm sạch da heo.

Chỉ cần bắc nồi lên bếp tiến hành đun sôi hỗn hợp nước cùng 1 ít baking soda, kế đến cho da heo vào chần sơ khoảng 5 phút, vớt ra rồi dùng dao tương đối bén cạo sạch đi phần lông theo 1 chiều nhất định, bạn sẽ thấy hiệu quả ngay lập tức.

madamchic.vn - cach lam sach da heo don gian 4.jpg

Vậy là,MadamChic vừa đem đến bài viết về các cách làm sạch da heo, lông heo vừa đơn giản, nhanh chóng mà còn sạch sẽ cực kì. Nhờ có những mẹo trên mà hương vị món ăn của bạn sẽ được trọn vẹn hơn rất nhiều đó nha!

Sưu tầm

JuJi

0 bình luận

Kỹ Nghệ Lấy Tây – Khi hôn nhân là một cái nghề

11/08/2021 | 2:30 chiều

“Kỹ nghệ lấy Tây” viết về phụ nữ dưới thế lực đồng tiền – chấp nhận bán rẻ bản thân, làm nô lệ cho những dục vọng thấp hèn – là sản phẩm của xã hội lai căng thời Pháp thuộc.

Vũ Trọng Phụng viết “Kỹ nghệ lấy Tây” khi vừa mới 22 – ở cái ngưỡng cửa cuộc đời mà đa phần giới trẻ thời nay thường phải đối mặt với ba chữ thất (thất học, thất nghiệp, thất tình) – thì ông đã lăn xả trên văn đàn Việt Nam hơn 3 năm và ngòi bút được đánh giá là đã “chín”.

Nhưng bấy nhiêu chưa đủ để tác giả đi viết một thiên phóng sự với cái nhan đề “Kỹ nghệ lấy Tây”.

Mãi đến một buổi sáng kia, một me Tây trước vành móng ngựa đã nói một câu khiến cho công chúng quên khuấy đi mình đang ở chỗ trang nghiêm, tưởng dè lúc đó đương xem hát bội mà thích chí cười ồ. Còn hai ông biện lý và chánh án thì ngẩn người nhìn nhau rồi mỉm cười.

– Tên là gì?

– Nguyễn Thị Ba.

– Bao nhiêu tuổi?

– Hăm nhăm.

– Làm nghề gì?

– Trước lấy một ông phó đoan, sau lại lấy một ông…

– Im! Nghề gì chứ ai hỏi chồng!

– Sau lấy một ông cập-ten.

– Không có nghề phải không? Vô nghề nghiệp (quay lên quan toà). Sans profession.

– Việc gì mà vô nghề nghiệp?

– Thế làm nghề gì?

– Làm nghề gì? Làm nghề… làm nghề lấy Tây!

Trước câu trả lời táo tợn của thị, cái mỉm cười của hai ông quan tòa làm Vũ Trọng Phụng khó hiểu quá xá. Sao thị kia dám sưng sưng như thế? Hay là có nghề lấy Tây thật? Mà sao hai ông quan tòa lại chỉ mỉm cười? Chỉ tha thứ? Hay là hai Ngài đã hiểu lời khai ấy không sai với sự thực đó chăng?

Hành trình đi tìm nguyên do cái cười mỉm của hai ông quan tòa.

Phạm Thế Ngũ từng nói rằng, đọc những thiên phóng sự của Vũ Trọng Phụng, “ta thấy công phu điều tra, khiếu quan sát, sự lịch duyệt của tác giả.”

Tác phẩm “Kỹ nghệ lấy Tây” gồm 10 chương, trừ chương cuối là phần kết luận, thì xuyên suốt 9 chương còn lại là quá trình điều tra, thu thập tài liệu của tác giả.

Trong chuyến đi đến xóm Thị Cầu, tác giả đã được trông thấy hẳn hoi một cuộc “ly dị” chồng với một buổi cưới chồng của bà Kiểm lâm, đã được rõ cái tâm sự phân vân của cô con lai Suzanne, đã được nghe một đoạn đời lấy 9 người vợ của Đi-mi-tốp, đã được mục kích bà Đội Tứ, người chôn các me, con sư tử mất ngôi, dạy dỗ con em ấy cái “tuých” cho khỏi bị chạy làng… Cũng thấy được một cảnh mà tác giả gọi là “ghê gớm” của mẹ con bà Ách Nhoáng.

“Cái giường của một me tây cũng như cái dùi khui của một thầy cảnh sát, cũng như cái búa của bác thợ rèn, cũng như cái cổ của một ông nghị viên Việt Nam. Trong cái kỹ nghệ lấy Tây, thợ chỉ làm việc trên giường.”

Bằng tài ăn nói khôn ngoan, có phần láu lỉnh theo phương phâm “đi với Phật mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy”, bởi vì một anh chàng làm báo trẻ tuổi và yếu ớt lại lăn lóc ở chỗ có những ông chồng cả ghen người Âu châu, thì thật sự có nhiều điều nguy hiểm.

Việc đi phỏng vấn, lấy thông tin, ghi lại các cuộc trò chuyện, mà ở trong đấy tác giả đóng vai trò gợi mở, luôn ở trong tâm thế “uốn lưỡi bảy lần trước khi nói”, cốt để lấy thông tin và ý nghĩ chân thực của các đối tượng, đã thổi vào sự dí dỏm hài hước trước một tác phẩm mang nội dung khá nặng nề là tệ đoan xã hội.

Sự trào phúng càng đưa tác phẩm của Vũ Trọng Phụng đi xa hơn, khiến ông có thể nhìn những đau thương qua lăng kính trào lộng, tạo thêm một sức mạnh, một sức đau đớn xót xa mới mà các tác giả cùng thời chưa đạt được.

Để rồi khi hiểu được cái mỉm cười của hai ông quan tòa, tác giả vẫn buông câu bông đùa chua chát: “Vả lại, nói nhiều mà làm gì? Sự thật bao giờ lại không là sự thật.”

Sản phẩm của xã hội thực dân nửa phong kiến.

Dưới thời thực dân nửa phong kiến, Nho giáo bị thất thế nhưng vẫn ngự trị ngấm ngầm, kết hợp với làn sóng phương Tây cưỡng ép xâm nhập, đã tạo nên những sự thay đổi đầy lố lăng, kệch cỡm, một xã hội văn minh rởm đời…

Làm báo, Vũ Trọng Phụng có phong cách của nhà báo. Ông nói thẳng, nói thực. Ông tả chân. Vũ Trọng Phụng dám đưa ra những vấn đề cấm kỵ nhất của xã hội Việt Nam dưới thập niên 30 – 40 của thế kỷ XX, đó là vấn đề tính dục, vấn đề đồng tình luyến ái, vấn đề mãi dâm… Ông cũng không ngại đi vào những vùng thâm u nhất của xã hội để điều tra sự thật: xã hội cờ bạc, xã hội lấy Tây, xã hội làm điếm, xã hội con sen…

Gọi chung chung là xã hội lấy Tây, kỹ nghệ lấy Tây, bởi vì người thợ làm nghề này có cả đàn bà lẫn đàn ông. Các me đã chia chồng Tây ra làm ba hạng theo chất lượng (số tiền nhận được) giảm dần: xi-vin, cô-lô-nhần và lê dương. Còn các anh đàn ông thì coi cô vợ đầm lai như một cái mỏ vàng.

“Kỹ nghệ lấy Tây” tập trung phản ánh hiện thực một cách chân thực về tất cả các khía cạnh của cái xã hội lấy Tây đó.

Ở cái thời buổi mà đồng tiền có sức mạnh vạn năng. Ở cái xã hội mà công lý không nằm bên lẽ phải mà nó nghiêng hẳn về phía có túi tiền nặng hơn. Thì con người cũng thay đổi theo xã hội, bị tha hóa dưới thế lực đồng tiền. Họ không sống theo luân thường đạo lý, nhân nghĩa hay liêm sỉ nữa, họ đặt đồng tiền lên đầu quả tim. Và dĩ nhiên trong cái thế sự đó, ái tình là một thứ xa xỉ, yêu đương mà không có tiền quả là cái thứ tình ngu muội.

Vì lẽ đó, nghề lấy Tây thỏa mãn sự thiếu tiền của người An Nam và sự thiếu tình dục của người Tây phương trên đất thuộc địa. Có cung có cầu thì có giao dịch có thị trường. Có cả sự cạnh tranh nhau của những người trong cuộc từ những bà mai cho đến những thằng Tây, me Tây. Có các cuộc ngã giá theo quan niệm “thuận mua vừa bán”.  Xuất hiện những cảnh dạy nghề, học nghề, dắt mối ăn tiền. Một xã hội thật lố lăng!

Những me Tây đó, từ thời còn non tươi mơn mởn đến khi hoa tàn ít bướm, cuộc đời đó họ có gì? Chỉ là những tháng ngày bị chà đạp trong vũng bùn vật chất và làm nô lệ cho dục vọng thấp hèn của bọn lính Tây, bị đối xử như đĩ điếm. Phải chăng, lấy Tây là nghề mại dâm trá hình đang núp bóng dưới một xã hội được cho là văn minh?

Tấm lòng nhân đạo của văn sĩ tả chân họ Vũ.

Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng: “Điều quan trọng nhất đối với một cây bút hiện thực chủ nghĩa không phải là đi thực tế dài hay ngắn, được “tham quan” nhiều hay ít. Điều quyết định là tấm lòng có nhập cuộc hay không, tâm huyết có để vào những điều mình tìm hiểu và thuật kể hay không.”

Vũ Trọng Phụng đạt được còn hơn thế, nhờ cái tài tả chân với vốn từ thăng hoa sống động, mà trên hết là cái tâm với nghề.

Tác giả mượn cái cười mỉm của hai ông quan tòa làm điểm khởi phát cho thiên phóng sự thêm phần ý vị. Nhưng qua cách đặt câu hỏi sau khi nghe mụ me Tây trả lời, sao thị lại dám sưng sưng như thế? Ông tỏ rõ một thái độ lên án và phê phán nghề lấy Tây này, có là cái vinh dự chi mà thị lại dám táo tợn thừa nhận một cách hiển nhiên như vậy?.

Vũ Trọng Phụng vạch rõ một bộ mặt xấu xí của xã hội, giữ thái độ cương quyết bài trừ tệ đoan. Nhưng ông vẫn thể hiện lòng cảm thông cho số phận con người. Đặc biệt dành lòng quan tâm sâu sắc cho số phận của những đứa trẻ con lai vô thừa nhận.

madamchic.vn - ky nghe lay tay, khi hon nhan la mot cai nghe 1.jpg

Ảnh:ashleedoan

Những đứa con tinh thần mang gen trội của Vũ Trọng Phụng. 

Phùng Tất Đắc có đề lời tựa cho “Kỹ nghệ lấy Tây”, trong đó có ghi:

“Được cái vinh dự sống trong một thời cục độc nhất của lịch sử, nhà cầm bút há chẳng nên tiến thẳng vào trung tâm thời cục mà tìm tòi, xem xét, suy nghĩ, ghi chép những sự trạng người trước chưa ai gặp thấy, những sự trạng người sau không thấy nữa, những sự trạng chỉ riêng mình được mục kích mà thôi?”

Trang viết này vào thời các cụ thì không sai, nhưng ở tương lai của các cụ, chính là khoảng thời gian từ đó đến bây giờ thì coi bộ còn thiếu chính xác, thiếu chính xác ở chỗ – “những sự trạng người sau không thấy nữa” – khi mà có vài sự trạng thời này vẫn xảy ra, dẫu có biến tấu râu ria nhưng bản chất vẫn như cũ.

“Kỹ nghệ lấy Tây” của Vũ Trọng Phụng không chỉ có giá trị nhất thời, không chỉ là tệ đoan xã hội dưới thời Pháp thuộc, mà còn có giá trị dưới mọi thời. Bởi vì, chỉ cần đổi tên “Kỹ nghệ lấy Tây” thành “Kỹ nghệ lấy Mỹ”, thế là ra đời một phóng sự viết về hoàn cảnh phụ nữ thời 1954 -1975 ở miền Nam, hay “Kỹ nghệ lấy Đại Hàn” hoặc gộp luôn thành “Kỹ nghệ lấy ngoại quốc” là nên một thiên phóng sự đầy tính thời sự nóng bỏng cho năm 2019.

“Kỹ nghệ lấy Tây” được viết năm 1934, sau 85 năm, tác phẩm này vẫn “sống” – là “sống” chứ không phải chỉ tồn tại.

Cũng không phải riêng “Kỹ nghệ lấy Tây”, những thiên phóng sự khác của ông, thậm chí là tiểu thuyết, như “Số đỏ”, “Làm đĩ”, “Giông tố”, “Lục xì”… đều là những đứa con tinh thần có gen mạnh, gen trội. Dù thời gian có trôi, xã hội có thay đổi, chúng vẫn có khả năng tự tái sinh, những tệ đoan mà tác phẩm viết đến vẫn còn là những ung nhọt của hiện tại, những tính cách mà nhân vật thể hiện vẫn còn hiện diện trong một bộ phận người đương thời.

Các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng, như mở một con đường tư tưởng xuyên sâu vào sự lầm than của kiếp người, của sự người bóc lột người, nó tồn tại ở bất cứ nơi nào, thời nào, nó sâu sắc khốc liệt hơn dưới những chế độ độc tài mà pháp luật dừng lại ở vùng ngoại cảnh.

Victor Hugo – đại văn hào Pháp đã từng nói:“Nếu một nhà văn chỉ viết cho thời đại của mình thì tôi sẽ phải bẻ bút và vứt nó đi.” Vũ Trọng Phụng đã không phải bẻ và vứt bút đi, thiên chức của ông đã được hoàn thành một cách trọn vẹn. 

Nguồn: Reviewsach

JuJi